Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Loading...

Đề bài: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác  phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Bài làm

    Lòng mẹ bao la như biển thái bình…
Có người mẹ nào lại không thương con, mong cho con những điều tốt đẹp nhất. Nhưng nhiều khi vì hoàn cảnh, người ta không thể nào làm được những điều mình muốn. Và người mẹ già nua đã gần đất xa trời trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – nhà văn giàu lòng nhân ái, xót thương với số phận bất hạnh của người nông dân – đã cho ta thấy tấm lòng cao quý của một người mẹ vĩ đại. Dù không làm được gì cho con, dù tuổi già sức yếu, nhưng chính bà lại là người đã gieo cho con những mầm non hi vọng vào ngày mai tươi sáng giữa những ngày cơ cực lầm than của nạn đói khủng khiếp năm 1954.
Bà cụ cũng như bao người khác trong xóm, đang bị cái đói, cái rét hoành hành. Ngoài kia, có biết bao nhiêu người đang nằm còng queo bên lề đường, chờ thần chết đến đón đi. Có lúc nào đó bà tự hỏi: liệu lúc nào sẽ đến lượt mình đây. Cuộc sống tưởng chừng như đang đi dần vào ngõ cụt. Có lẽ bà cũng đã sẵn sàng đón chờ cái chết đến với mình trong nay mai. Nhưng một sự kiện lớn lao đã bất ngờ xảy ra trong gia đình bà: anh cu Tràng lấy vợ. Theo như tác giả đã viết, thì đó là một cuộc “nhặt” vợ đầy bi hài chứ không phải một đám cưới đám xin như bình thường.

Bà cụ TứKhi thấy con mình dẫn về nhà một người đàn bà lạ, tâm trạng bà cụ đi từ bất ngờ đến sự tủi hổ, bẽ bàng. “Bà lão cúi đầu, Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…”. Nước mắt của một người phụ nữ đã trải qua biết bao nhiêu cay đắng cuộc đời, nay gần đất xa trời, những giọt nước mắt ấy thấm đượm bao suy tư, nỗi niềm. Cuộc đời bà có thể chỉ còn trong gang tấc, nhưng những điều bà suy nghĩ trong lòng lúc này còn dài đằng đẵng theo những năm tháng trước mắt của con mình. Bà hiểu rằng biết bao nhiêu khó khăn đang chờ phía trước. Thậm chí cuộc sống hiện tại còn đang lay lắt từng ngày, vì nạn đói có thể nhấn chìm bất cứ ai. “Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con. May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được”. Bà lão hiểu hoàn cảnh của gia đình mình. Bà cũng cảm thông và xót xa cho “nàng dâu mới” về nhà chồng mà không có được một mâm cơm đàng hoàng, cẩn thận để mời người thân, xóm làng. Rồi bà ngậm ngùi “u cũng mừng lòng…”. Dấu ba chấm bỏ lửng giữa câu còn ẩn chứa biết bao nhiêu nỗi niềm, cảm xúc của tấm lòng người mẹ đang phân trần, bẽ bàng trước hoàn cảnh trớ trêu. Bà vẫn từ tốn nói với con dâu: “Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rôi con cái chúng mày về sau”. Những lời động viên của bà lão như một làn hơi ấm áp đỡ nâng con giữa lúc khó khăn, khổ cực. Cả Tràng và thị đều hiểu tình cảnh lúc này. Nhưng họ đã vượt qua tất cả, giờ lại được thêm sự ủng hộ, chấp thuận của mẹ, hai người càng thêm hi vọng và niềm tin vào ngày mai tươi sáng.

Tấm lòng thương con, yêu con, và thấu hiểu sự đời của bà cụ lại một lần nữa khiến nước mắt bà chảy “ròng ròng”. Ở cái tuổi này rồi, nước mắt đâu còn nhiều mà tuôn trào được như thế nữa. Chứng tỏ nỗi đau trong bà lớn lao lắm, sâu sắc lắm. Những giọt nước mắt đã nói hộ bao tâm tình của người phụ nữ lớn tuổi gần đất xa trời. Bà thương con, bà tự cho mình không làm tròn trách nhiệm của người mẹ vì không có “dăm ba mâm” mời họ hàng thân thích, mời xóm làng. Nhưng vì đói, vì khổ, mọi người đều bỏ qua những lễ giáo, gia phong của một đám cưới chuẩn mực. Thế nên, nhà văn đã thâu tóm sự việc qua hai từ “vợ nhặt” quả không sai. “Nhặt” là nhặt những thứ rác rưởi dưới đất, nhưng ở đây lại là nhặt vợ. Nói như vậy không phải vì người vợ của Tràng chỉ là thứ rác rưởi, mà để nói lên sự thật về thân phận của con người trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Họ nghèo đói, họ khổ sở tới mức bỏ quên mất cả bản thân mình. Họ phải nhặt nhau về, cùng dìu nhau đi qua nạn đói thê lương. Cũng may, tấm lòng nhân hậu và yêu thương con vô bờ bến đã tạo nên sự “thành công viên mãn” cho cuộc nhặt vợ đầy bi hài.
Trong ngày đầu tiên có con dâu mới trong nhà, bà cụ và Tràng đều cảm nhận được một luồng gió mới đã thổi bay sự u ám, ảm đạm bấy lâu nay. Thay vào đó là không khí của một tổ ấm thực sự. Sân vườn đều được quét dọn sạch sẽ. Hai cái ang nước đã đổ đầy nước. Mọi việc đều đi lên theo chiều hướng tốt đẹp. Dù bữa cơm ngày đói có thảm hại, nhưng đối mặt với nỗi tủi hổ, bà cụ đã khơi dậy cho các con những hi vọng mới vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. “Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…”. Dự định thật đơn sơ, giản dị và nằm trong khả năng Tràng có thể thực hiện được. Chứng tỏ bà cụ Tứ dù tuổi cao nhưng đầu óc vẫn rất minh mẫn. Không những thế, chính bà là người đã chèo lái không khí gia đình từ sự cơ cực của nạn đói đến những niềm hi vọng, những ước mơ nhỏ nhoi nhưng có thể làm thay đổi cuộc sống này.
Cho tới khi nồi cháo cám xuất hiện, nỗi tủi hờn lại làm cho mọi người nín lặng. Đâu phải bà không biết rằng vị cám rất chát, nhưng bà vẫn hào hứng, đon đả và gọi đó là “chè khoán”, “hay lắm cơ”, “ngon đáo để”. Có lẽ lúc này lòng bà đang nặng trĩu sự tủi nhục, nhưng bà vẫn gắng gượng tươi cười để các con có thêm động lực vượt qua “tao đoạn” này. Vị đắng xít của cám, cũng là vị đắng của cuộc đời mà mọi người đang phải trải qua. Dù không ai nói với ai lời nào, dù nỗi tủi hờn đang len vào tâm trí, nhưng mọi người vẫn “điềm nhiên đưa vào miệng”. Sự cam chịu và bẽ bàng đan xen vào nhau, nghẹn bứ trong cổ. Bất chợt tiếng trống dồn dập vang lên. Tiếng trống thúc thuế. Lại một lần nữa nước mắt tuôn trào trên kẽ mắt kèm nhèm của bà cụ. “Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ”. Nhìn vào sự thật phũ phàng, bà lại khóc. Nhưng bà không dám để các con nhìn thấy những giọt nước mắt khổ đau ấy, vì bà vừa mới gieo cho chúng những tia vọng vào cuộc sống tươi đẹp.
Ít nhất ba lần ta bắt gặp bà khóc. Sau những giọt nước mắt ấy là tấm lòng dạt dào yêu thương của một người mẹ dành cho con mình. Nhà văn không dùng quá nhiều từ ngữ cho bà, nhưng những gì bà mang lại cho các con càng làm cuộc sống thêm ý nghĩa, làm bừng lên niềm tin sắt đá vào ngày mai tươi sáng. Bởi thế, cả Tràng và thị đều nghĩ đến cảnh phá kho thóc của Nhật, chia cho người nghèo. Cứ hi vọng, cứ can đảm, rồi mọi chuyện sẽ trở thành sự thật. Gia đình Tràng và xóm làng sẽ sớm thoát khỏi nạn đói bần cùng này.
Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng bà cụ Tứ, đặt bà trong hoàn cảnh éo le, trớ trêu của nạn đói thê thảm năm 1954. Bà là đại diện cho nhiều người mẹ nghèo khó khác. Tuy khổ cực nhưng vẫn luôn dành hết tình yêu thương cho các con. Chính bà đã làm tăng thêm phần giá trị và ý nghĩa sâu sắc cho tác phẩm.

Loading...
Share this Post :

Xem thêm

No comments yet.

You must be logged in to post a comment.