Chứng minh hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn” của Xuân Diệu

Loading...

Đề bài: Hoài Thanh đã nhận xét về Xuân Diệu trong thi nhân Việt Nam: đó là một hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn”. Hãy chứng tỏ điều đó qua các bài thơ Vội vàng , Đây mùa thu tới, Thơ duyên của ông.

Bài làm:
Cái “tôi” được khẳng định đã đem đến cho Thơ mới 1930 – 1945 sự đa dạng, phong phú của các gương mặt thi nhân, như Hoài Thanh từng nhận xét trong Thi nhân Việt Nam: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ mộng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo nào như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”. Trong khi mỗi hồn thơ chỉ được nói đến bằng một tính từ, thì nhà phê bình lại đặc biệt dùng đến ba tính từ đế nhận xét cái “riêng” cùa Xuân Diệu: một hồn thơ tha thiết, rạo rực, băn khoăn. Vì sao lại có sự ưu ái như vậy? Đơn giản cnỉ vì ông là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Và điều này ta cố thể dễ dàng tìm thấy qua ba bài thơ tiêu biểu: Vội vàng, Đây mùa thu tới, Thơ duyên.

Bước vào thế giới thơ ca của Xuân Diệu thật muôn hình vạn trạng. Có biết bao cái hay, cái đẹp trong cuộc sống này được nhà thơ gửi gắm trong từng bài thơ, từng câu thơ, chữ thơ của một hồn thơ “tha thiết, rạo rực, băn khoăn”. Rõ ràng khi ta đọc thơ, đi sâu vào tìm hiếu thơ của thi sĩ, ta thấy thấp thoáng có một ngọn lửa khát vọng, ngọn lửa của cuộc sống đang rạo rực khát khao với đời, với người. Nhưng thông qua tấm lòng yêu đời lại gợn lên một chút băn khoăn buồn thảm cùa một thi nhân trước thời cuộc.

honthoxuandieu

Chứng minh hồn thơ Xuân Diệu

Nỗi băn khoăn đó làm cho “nhà thơ như bị giam hãm trong một môi trường thiếu năng lượng, thiếu chất đốt cùa lòng tin, làm sao thơ ông có đủ chất sáng? Nhưng thật đáng quí là trong nhà thơ vẫn lập lòe “ngọn lửa Đan-cố” trên thảo nguyên mịt mùng của cuộc đời: ngọn lửa của tình yêu người, yêu non sông đât nước, yêu tiếng mẹ đẻ…”. Và ta biết chắc một điều là: trong thơ Xuân Diệu “khi vui cũng như khi buồn đều nồng nàn tha thiết . Có lẽ cũng chính vì diều đó mà nhà thơ đã nhìn cuộc sống với một tình yêu trẻ trung dạt dào bằng một cặp mắt “xanh non” “biếc rờn.”, đem đến cho đời và cho thơ một quan niệm sống hoàn toàn mới lạ:

“Sống toàn tim, toàn trí, sống toàn hồn »
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”
(Thanh niên)

Một sự ham muốn cuồng nhiệt luôn luôn được sống là mình, sống mê say, vồ vập. Cuộc sống “thiên đường” ấy hiện ra trong bài Vội vàng của nhà thơ như lung linh và đầy sức hấp dẫn. Ở đó có “ong bướm” với “tuần trâng mật”, có hoa trong “đồng nội xanh rì”, có “cành tơ phơ phất” rồi “khúc tình si” và cả ánh bình minh rực rỡ… Từng câu, từng chữ, từng dòng nhanh gấp như muốn liệt kê, muốn nói to lên hết thảy những cái đẹp đẽ trong cuộc sống ấy. Tiếng nói tâm tình của nhà thơ về bức tranh mùa xuân như một người dẫn chương trình Từng bước chán của tác giả như kéo ta đến gần, khám phá ra những cái tuyệt diệu nhất của cuột sống:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si…”

Nếu Thế Lữ còn nuôi giấc mộng lên tiên thì “Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới” (Hoài Thanh). Nhà thơ đã phát hiện ra một thiên đường nơi mặt đất, ngay trong tầm tay của chúng ta. Con người cứ phải đi tìm kiếm ở tận đâu? Nó ngay trong cuộc sông quanh ta đây: những hoa thơm trái ngọt và mùa xuân rực rỡ. Vậy còn chờ gì nữa? Háy yêu mến và gắn bó với thực tại này.
Cuộc sống đẹp và kì diệu như vậy, nên nhà thơ không những đón nhận nó, mà còn muốn hòa tan nó theo từng hơi thở của mình:

“Ta muốn ôm
Cả sự sống nơi bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều…’’

Có nhà thơ đã nói: “Thơ chỉ tràn ra khi cuộc sống trong tim đã ứ đầy”. Có lẽ tình ‘yêu cuộc tống cùa nhà thơ Xuân Diệu đã tăng lên dần theo từng từ “muốn”. Rồi “ôm” đến “riết” là đã ghì chật hơn. Và đã “say” – sự ngây ngất đến bất tỉnh vẫn chưa thỏa lòng mà còn muốn “thầu” nghĩa là muốn thu hết tất cà để có sự hòa nhập làm một. Để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt chưa bao giờ có trong thơ:
“Hời xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!*

Đây đúng là “tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt” có lẽ chính là “cuộc sống nơi trần thế là thiên đường tuyệt diệu nhất” của thi sĩ Xuân Diệu.

Hồn thơ yêu đời ấy lúc thì hối hả “vội vàng”, khi lại đằm thắm lắng sâu, nhưng bao giờ cũng thiết tha, rạo rực. Đó là cái thiết tha rạo rực như con sóng bạc đầu trên biển cả trong Vội vàng, lại có những lượn sóng ngầm cũng không kém phần rạo rực thiêt tha dưới lòng sâu. Đó là bài Thơ duyên, một sự hòa hợp tuyệt điệu giừa thiên nhiên và thời tiết – lòng người, một bức tranh thu chứa chan sức sống, rạo rực tình yêu của thi sĩ. Một buổi “chiều mộng” với biết bao âm thanh sinh động, hình ảnh đẹp đẽ đã tác động đến tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ khiến thi nhân đã phải thốt lên những tiếng tơ lòng:

“Chiều mộng hòa thơ trên nhành duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Để trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”.

Thi sĩ đã nhìn vạn vật bằng con mắt và tâm lòng đổng cảm cùa mình. Dưới con mắt ây, cảnh thiên nhiên sao mà có duyên đến thế, đẹp đến thế. Đọc lên câu thơ thứ nhất ta đã thấy như có một sự gắn bó vô hình nào đó của chiều thu, của thơ và của “nhánh duyên”. Thiên nhiên cùng cảnh vật đều mang một sức sống sinh động và tươi vui: cây thì như đang “ríu rít” cùng cặp chim chuyển, lá thì như tan ra trong sắc màu xanh trong như ngọc của bầu trời, âm thanh du dương “tiếng huyền” của mùa thu như hòa thành một bản nhạc kì lạ và tấu lên một khúc tương giao gắn bó của thiên nhiên đất trời. Đúng là nhờ có một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp Xuân Diệu khám phá được nhiều biến thái tinh vi cùa tự nhiên và thể hiện nó trên những vần thơ đậm sắc màu lãng mạn. Ta như nghe thây cái thiết tha rạo rực cùa lòng thi nhân đang dâng đầy ăm ấp trong cảnh “chiều mộng”, trong “tiếng huyền” của mùa thu. Bức tranh thiên nhiên đà được khúc xạ qua tấm lòng yêu đời cùa thi sĩ. Tấm lòng yêu đời ấy lại càng rạo rực thiết tha trong mối tình đầu e ấp. Ở đây có sự giao hòa tuyệt đẹp giữa cảnh và tình, giữa thiên nhiên và lòng người:

“Con đường nho nhỏ giỏ xiêu xiêu
Lá lá cành hoang nắng trở chiều
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu”

Và càng đẹp hơn là sự hòa hợp của hai trái tim đang yêu như “một cặp vần” trong “bài thơ dịu”, càng rạo rực hơn trong làn mây biếc “bay gấp gấp”, càng thiết tha cháy bỏng hơn trong “chim nghe trời rộng giang thêm cánh”. Làn mây và cánh chim của tình yêu trong thơ Xuân Diệu thật mới lạ, mãnh liệt và táo bạo – nó là sản phấm của một hồn thơ yêu đời, thiết tha với cuộc sông. Hồn thơ ây muốn mở rộng, giao hòa với con người và vạn vật giống như “một cây đàn Bá Nha nhưng không muốn chỉ có một Chung Tử Kì mà khát khao hàng vạn hàng triệu tri kỷ”.

Một hồn thơ yêu đời như thế nhưng sao nhà phê bình lại ghi thêm hai chữ “bân khoăn” với “thiết tha, rạo rực”? Đây là hai tâm trạng dường như trái nguợc nhau nhưng thực ra lại cổ mối liên quan nhân quả với nhau: chính vì yêu đời thiết tha nên mới băn khoăn khi chưa được cuộc đời đền đáp (“Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu”), và băn khoăn lại là biểu hiện rộ nét và chân thành nhất cùa lòng yêu đời rạo rực. Đó là hai mặt của một hồn thơ thống nhất Xuân Diệu, và phải chăng, chính thi sĩ đã tự bộc lộ mình trong Thơ duyên:

“Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân”.

Nhưng vì sao lại có nỗi “băn khoăn” ấy? Vì sao cuộc đời đáng yêu như thế, đầy hương sắc như thế mà nhà thơ lại buồn? Phải chăng là sống trong xã hội loạn lạc, nước mất nhà tan, những con người “chưa đủ dũng khí để chổng lại chế độ thực dân” đã mang một nỗi lòng u hoài và thường tìm đến thiên nhiên tâm sự. Thật là đúng khi Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nói: ‘Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chê Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đá khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ”.

Hiện thực cuộc sống của các nhà thơ mới đáng sợ làm sao! Nó ngăn chặn mọi ước mơ tốt đẹp về cuộc sống của con người. Nó không thể làm cho người ta sống đẹp vì hiện thực của đất nước là đang trong vòng lầm than nô lệ. Ta hiếu vì sao Xuân Diệu “say đắm” mà vẫn “bơ vơ”. Lắng nghe bước đi của thời gian chuyển từ hạ sang thu, lòng nhà thơ dâng lên một nỗi buồn tê tái thê lương – nồi buồn đã vỡ ra thành tiếng khóc và đọng lại thành hàng ngàn giọt lệ:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

Một bức tranh thu tuyệt đẹp với rặng liễu thu buồn. Song có lẽ không phải “Rặng liễu thiên nhiên” buồn mà dường như đó chính là “rặng liễu tâm hồn” của tác giả. Bởi chính tác giả cũng đã từng có một nỗi niềm: “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Xuân Diệu đã dẫn hồn ta vào thế giới cô đơn buỗn chán tuyệt vọng:

“Tôi là con nai bị chiều giăng lưới
Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối…”

Hai câu thơ mà chứa đựng biết bao tâm trạng của kẻ thiết tha yêu đời nhưng lại như đang phải tự giam mình trong cô đơn sầu thẳm. Đến nỗi trước cánh mùa thu ào đến, nhà thơ đã phái thốt lên những tiếng reo mừng khe khẽ: “Đây mùa thu đi, mùa thu tới” nhưng rồi cảm giác vui mừng lại bị xóa nhòa đi, nhường chỗ cho cảm giác buốt lạnh cô đơn. Thu đến chỉ thấy có gió rét luồn lách qua từng ngọn cỏ nhành cầy, chỉ thấy cánh vật mang một nỗi buồn tâm trạng trước thời cuộc, nó lan tỏa ra không gian và đọng lại trong ký ức của bầu trời và lòng nguời:

“Mây vẫn từng không chim bay đi
Khi trời u uất hận chia li
ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Cả một không gian bao la lúc này đã thấm đượm nỗi buồn của lòng người và hiến hiện lên khuân mặt của các cố thiếu nữ. Đúng là tâm trạng trước cảnh “nước mất nhà tan” cùa những lớp người chưa xác định được hướng đi cho mình và dường như cũng không thể giải thích nổi. Nó chỉ phảng phất trên cảnh vật, hiện hình lên gương mặt những người thiếu nữ và đọng lại trên sắc thu tê tái, thấm sâu nỗi niềm băn khoăn của thi sĩ.

Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu khát khao ước mơ nhiều. Nhưng khát khao sống bình thường hạnh phúc mà cũng chẳng được. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ đã đưa mình đến với những thế giới đầy xuân sắc và tình tứ, cỏ tạo ra những mộng mơ để tự huyễn hoặc mình? Nhà thơ cũng đã một lần ao ước:

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói xuốt trăm năm ‘
” (Giục giả)

Nhà thơ yêu đời, tha thiết gắn bó với đời. nhưng thực tế cuộc sông xã hội lại không được như ý nguyện, nhà thơ muốn tìm đến nhừng tâm hồn đồng điệu cũng không được, muốn san sẻ ước muốn với người khác cũng không xong. Trách chi nhà thơ chẳng buồn, chẳng cô đơn lẻ loi như cánh chim chiều thu đang phân vân đôi cánh trong bài Thơ duyên:

“Con cò trên ruộng cánh phân vân*

Phân vân không biết bay đi hay đậu, bay cao hay thấp, tâm trạng của nhà thơ cũng vậy, cũng bối rối, “băn khoăn” trước ngã ba của cuộc đời. Điều này đã làm cho ta hiểu thêm về nỗi đau của một trái tim say đắm, nồng nhiệt mà không được đền đáp xứng đáng. Đó là cảm giác cô đơn giá lạnh trước thái độ nhạt nhẽo của cuộc đời.

Ta hiểu vì sao trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu mùa xuân và bình mình đi liền với những chiều thu tàn và những đêm tráng lạnh. Sự nồng nàn đi với cảm giác bơ vơ. Cái hạt nhân cơ bản để tạo ra cái đẹp trong hồn thơ ‘Xuân Diệu chính là nỗi “yêu đời” và “đau đời”. Phải chăng vì thế nên thơ ông đã tồn tại qua bao lớp bụi của thời gian?

Nhà phê bình Hoài Thanh quả đã rất tinh tế khi nhận xét hồn thơ Xuân Diệu bằng sáu chữ: “tha thiết, rạo rực, bản khoăn“. Sáu chừ nói lên hai mặt đồng thời cũng là hai vẻ đẹp của hồn thơ lãng mạn ấy. Hai vẻ đẹp này tường như” tách rời nhau nhưng lại kết hợp biện chứng thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau để làm nên vê đẹp riêng của hồn thơ Xuân Diệu. Hồn thơ ấy đã hơn nửa thế kỉ trôi qua vẫn có biết bao lớp người đang say và ngẩn ngơ!

Loading...

Xem thêm

No comments yet.

You must be logged in to post a comment.