Bình giảng bài thơ “Việt Bắc” của nhà văn Tố Hữu

Loading...

binh giang bai tho viet bac

Đề bài: Em hãy bình giảng bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu.

Bài làm

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng cũng là khi mà Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để trở về Hà Nội. Và bài thơ Việt Bắc ra đời khi đó, diễn tả nỗi niềm thương nhớ Việt Bắc của tác giả cũng như của các cán bộ chiến sĩ. Bài thơ được coi là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng đồng thời là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đoạn trích năm ở phần I, phần tái hiện giai đoạn chiến tranh gian khổ nhưng vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc – đoạn kí ức không thể nào quên của những người chiến sĩ cũng như những người dân Việt Bắc.
Bài thơ dùng thủ pháp đối đáp giữa người đi – người ở nhằm khơi gợi, bộc lộ tâm trạng, Đoạn thơ mở đầu mang đầy tâm trạng vấn vương, quyến luyến, không nỡ xa rời của những người đã từng gắn bó với nhau “mười lăm năm” ròng rã :

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Khổ thơ gợi nhớ cả về thời gian lẫn không gian Việt Bắc. Mười lăm năm – một chặng đường dài kháng chiến đầy gian khổ, quân dân cùng nhau một lòng kháng chiến chống giặc, liệu đi rồi, “minh” có còn nhớ hay không? “Núi” và “nguồn” ở đây là những hình ảnh tượng trưng cho Việt Bắc hùng vĩ. Không chỉ thế, Tố Hữu đã lồng vào đó đạo lí “ Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của nhân dân ta. Nhớ, không chỉ là nhớ Việt Bắc, mà còn là nhớ nguồn cội của mọi chiến thắng, nguồn cội của tự do, của độc lập.
Đáp lại lời mở đầu vấn vương, da diết là cảnh chia tay đầy nghẹn ngào, bâng khuâng:

“ Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Một loạt những tính từ “ tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” được sử dụng liên tiếp, như nói lên tâm trạng của người ra đi. Cũng nhớ nhung tha thiết, cũng bâng khuâng da diết nhớ về những người ở lại. Áo chàm là màu áo của người dân Việt Bắc, cũng như là hình ảnh tượng trưng cho tấm lòng son sắt, mãi không phai mờ của những người dân nơi đây. “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Không phải họ không có gì để nói với nhau, chỉ là quá nghẹn ngào, quá nhiều điều để nói mà không biết phải bắt đầu từ đâu, chỉ biết cầm tay nhau, rung rưng….Dấu ba chấm như kéo nỗi buồn chia ly dài, dài mãi.
Sau đó, người ở lại lại lên tiếng. Họ nói về những kỉ niệm, những gian khổ đã cùng nhau trải qua:

“Mình đi có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm dà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?

Nhớ, là nhớ những ngày gian khổ những đầy ấm áp nghĩa tình. Nhớ những gian khổ, khắc nghiệp,nhớ mây mù, nhớ “mưa nguồn suối lũ” của núi rừng Việt Bác. Nhớ những ngày ăn uống kham khổ, chỉ có cơm chấm muối. Ở đây, nỗi căm thù quân xâm được đã được cụ thể hóa, như sờ được, nhìn được, thấy được, mối thù nặng trĩu đôi vai người chiến sĩ. Nhớ những ngày chỉ có trám rừng, măng mai nhưng vẫn “đậm đà lòng son” nơi chiến khu gian khổ. Câu hỏi lớn nhất là “ Mình đi, mình có nhớ mình” – Mình có còn nhớ rằng đã từng trải qua những ngày tháng gian khổ ấy khi về với thủ đô phồn hoa hay không? Có còn là mình của những ngày ấy hay lại sẽ đổi thay thành người phố thị?
Ở toàn bộ những đoạn thơ sau, Tố Hữu để người đi trả lời, vì họ là những người ra đi, rời xa mảnh đất mà “khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, mang bao nỗi nhớ về con người và mảnh đất quê hương cách mạng.

“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”

“Ta” với “mình” quấn quýt – như hai mà một, hai phía nhưng cùng một tâm trạng nhớ nhung da diết hướng về đối phương. Với câu hỏi ở khổ thơ trên, người đi đã trả lời người ở một cách đầy chắc chắn “ Mình đi, mình lại nhớ mình”. Họ đinh ninh rằng sẽ nhớ mãi, sẽ không quên được những con người ấy, mảnh đất ấy và những năm tháng gian khổ nhưng vẻ vang ấy.
Nỗi nhớ của những người ra đi cứ thể tuôn trào theo từng dòng thơ:

“Nhớ gì như nhớ người yêu
…..
Chày đêm nện cối đều đều suối xa”

Những người chiến sĩ ấy nhớ, nhớ hết, nhớ tất cả những “ đắng cay ngọt bùi” mà họ đã cùng nhau trải qua. Nhớ từng khung cảnh nơi núi rừng Việt Bắc, khi trăng lên, khi chiều xuống, khi sông vơi sông cạn, khi nắng cháy lưng người mẹ địu con bẻ ngô để nuôi anh bộ đội, nhớ tiếng chày đều đều trong đêm…Họ cùng nhau chia từng củ sắn, sẻ từng bát cơm, đắp cùng một chiếc chăn trong những tháng ngày thiếu thốn. Nhưng càng thiếu thốn, tình người càng nồng ấm, càng đẹp, càng trọn vẹn.
Nhớ về Việt Bắc không chỉ là nhớ những gian khổ, những khắc nghiệt. Tố Hữu còn cho người đọc thấy được cảnh rừng Việt Bắc tươi đẹp trong khổ thơ tiếp theo:

“ Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
….
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Nhà thơ Tố Hữu đã dựng lên bốn bức tranh bốn mùa của Việt Bắc, với những âm thanh, màu sắc đặc trưng riêng của từng mùa. Mùa đông Việt Bắc không ảm đạm mà được miêu tả bằng màu đỏ tươi của hoa chuối, màu vàng của ánh nắng đông. Mùa xuân với nét đặc trưng “mơ nở trắng rừng”, mùa hè rực rỡ với tiếng ve kêu và màu vàng của rừng phách, mùa thu diu dàng với ánh trăng và tiếng hát tha thiết. Tất cả những điều đẹp đẽ ấy đều đã in sâu trong tâm trí từng chiến sĩ – những người đã gắn bó với mảnh đất này mười lăm năm.
Theo dòng cảm xúc, Tố Hữu đã dẫn người đọc, cũng như đem tâm trí của mình quay về với những ngày kháng chiến oai hùng:

“ Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

Những khi có tin vui thắng trận:
“ Tin vui chiến thắng trăm miền
….
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Hay cả những ngày họp bàn để chuẩn bị cho kháng chiến:

“ Ai về ai có nhớ không

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu”

Tất cả đều thật rõ ràng, thật gian khổ nhưng cũng thật tự hào.
Đoạn trích được khép lại bằng 8 câu thơ nói về hình ảnh và ý nghĩa to lớn của chiến khu Việt Bắc:

“Ở đâu u ám quân thù

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.”

Việt Bắc là ngọn lửa soi đường, là niềm tin, niềm hi vọng của toàn dân tộc ta. Không chỉ thế, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định một cách chắc chắn: “Mười lăm năm ấy ai quên/ Quê hương Cách mạng dựng lên Cộng hòa”. Việt Bắc là gốc rễ, là nguồn cội, là nơi nuôi nấng Cách mạng từ khi còn trứng nước tới khi đạt được thống nhất như ngày hôm nay. Và chẳng ai quên Việt Bắc – chẳng ai quên được nơi thiêng liêng ấy cả.
Qua bài thơ Việt Bắc, không chỉ tái hiện những năm tháng chiến đầu gian khổ nhưng ấm tình quân dân, Tố Hữu còn góp phần khẳng định thêm lòng thủy chung, son sắt, đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. Bài thơ ấy sẽ mãi là một ngọn lửa sáng trong nền văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.

Loading...

Xem thêm

No comments yet.

You must be logged in to post a comment.